Bán tên miền Vina Coffee, cà phê Việt: vinacoffee.com.vn, vncoffee.vn, vncafe.com.vn

Bán tên miền Vina Coffee, cà phê Việt: vinacoffee.com.vn, vncoffee.vn, vncafe.com.vn

Bán tên miền Vina Coffee, Vn Cafe, Cà phê Việt:

  1. Vinacoffee.com.vn
  2. Vncoffee.vn
  3. Vncafe.com.vn

Xuất khẩu cà phê sang các thị trường chính tăng rất mạnh trong tháng đầu năm 2019

Bán tên miền Vina Coffee, Vn Cafe, Cà phê Việt: vinacoffee.com.vn, vncafe.com.vn, vncoffee.vn
Bán tên miền Vina Coffee, Vn Cafe, Cà phê Việt: vinacoffee.com.vn, vncafe.com.vn, vncoffee.vn

Theo ước tính trong tháng 1/2019, lượng cà phê xuất khẩu sang Ý tăng 123,1%, Tây Ban Nha tăng 44,1%, Nga tăng 61,2%, Nhật Bản tăng 80,8%, Bỉ tăng 44,8%, Anh tăng 69%. Angiêri tăng 49,5%…

 

Bộ Công thương cho biết, trong 10 ngày giữa tháng 2/2019, giá cà phê Robusta nhân xô trong nước giảm theo giá cà phê toàn cầu. So với ngày 9/2/2019, giá cà phê Robuta nhân xô giảm từ 0,9 – 1,5%. Ngày 18/2/2019, giá cà phê Robusta nhân xô thấp nhất là 32.700 đ/kg tại các huyện Di Linh và Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng); mức cao nhất là 33.400 đ/kg tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk; tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê Robusta loại R1 giảm 1,2% so với ngày 9/2/2019, giao dịch ở mức 34.300 đ/kg, ổn định so với ngày 18/1/2019.

 

Bán tên miền Vina Coffee, Vn Cafe, Cà phê Việt: Vinacoffee.com.vn, Vncafe.com.vn, Vncoffee.vn

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 01/2019 đạt 183,7 nghìn tấn, trị giá 324,24 triệu USD, tăng 19,4% về lượng và tăng 17,6% về trị giá so với tháng 12/2018, nhưng giảm 15,1% về lượng và giảm 22,7% về trị giá so với tháng 01/2018. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng cà phê tháng 01/2019 đạt mức 1.765 USD/tấn, giảm 1,5% so với tháng 12/2018 và giảm 9,6% so với tháng 01/2018.

Tháng 1/2019, xuất khẩu cà phê sang nhiều thị trường tăng trưởng khả quan so với tháng trước đó, trừ xuất khẩu sang Đức giảm. Lượng cà phê xuất khẩu sang Ý tăng 123,1%, Tây Ban Nha tăng 44,1%, Nga tăng 61,2%, Nhật Bản tăng 80,8%, Bỉ tăng 44,8%, Philíppin tăng 40,7%, Anh tăng 69% và Angiêri tăng 49,5%.

Mặc dù giảm, nhưng Đức vẫn là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất với lượng đạt 25.918 tấn, trị giá 43,6 triệu USD, giảm 1,1% về lượng, nhưng tăng 0,5% về trị giá so với tháng 12/2018, giảm 8,9% về lượng và giảm 15,8% về trị giá so với tháng 1/2018.

 

Bán tên miền Vina Coffee, Vn Cafe, Cà phê Việt: Vinacoffee.com.vn, Vncafe.com.vn, Vncoffee.vn

Bộ Công thương cho biết, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Bỉ có sự tăng trưởng mạnh về lượng và đứng ở vị trí nhà cung cấp lớn thứ 2, chỉ sau Braxin. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng mặt hàng cà phê của Việt Nam tại Bỉ tăng mạnh nhất 45% về lượng, trong khi Braxin chỉ tăng trưởng 0,9%. Điều này cho thấy mặt hàng cà phê của Việt Nam ngày càng được ưa chuộng tại Bỉ.

Trong năm 2019, nếu ngành cà phê Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng 2 con số, có khả năng Việt Nam sẽ vượt qua Braxin, trở thành nhà cung cấp cà phê lớn nhất cho Bỉ.


Bán tên miền Vina Coffee, Vn Cafe, Cà phê Việt: Vinacoffee.com.vn, Vncafe.com.vn, Vncoffee.vn

 

[wpforms id=”3038″ title=”true” description=”true”]

Việt Nam cung cấp tới hơn 90% cà phê cho thị trường Thái Lan

Việt Nam cung cấp tới hơn 90% cà phê cho thị trường Thái Lan
Thị phần cà phê Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan tăng mạnh từ 72,4% tỷ trọng năm 2017, lên 92,4% tỷ trọng năm 2018.

Bộ Công thương cho biết, trong 10 ngày đầu tháng 2/2019, giá cà phê Robusta nhân xô trong nước tăng theo giá cà phê toàn cầu. Ngày 8/02/2019, giá cà phê Robuta nhân xô tăng từ 0,9 – 1,5% so với ngày 31/1/2019. Cà phê Robusta nhân xô có mức thấp nhất là 33.000 đ/kg tại huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng); mức cao nhất là 33.900 đ/kg tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk.

Trong khi đó, tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8/02/2019 cà phê Robusta loại R1 tăng 1,2% so với ngày 31/1/2019 và tăng 0,6% so với ngày 10/1/2019, đạt mức 34.700 đ/kg.

Theo số liệu thống kê từ Cơ quan Hải quan Thái Lan, nhập khẩu cà phê của nước này năm 2018 đạt 64,68 nghìn tấn, trị giá 4,487 tỷ baht (tương đương 142,57 triệu USD), tăng 11,5% về lượng, nhưng giảm 10,5% về trị giá so với năm 2017.

Việt Nam là nguồn cung cà phê lớn nhất cho Thái Lan với tốc độ nhập khẩu tăng trưởng khả quan 42,3% về lượng và 11,1% về trị giá so với năm 2017. Thị phần cà phê Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan tăng mạnh, từ 72,4% tỷ trọng năm 2017, lên 92,4% tỷ trọng năm 2018.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, năm 2018 xuất khẩu cà phê sang khu vực ASEAN đạt 198.851 tấn, trị giá 375 triệu USD, tăng 135,7% về lượng và tăng 92,1% về trị giá so với năm 2017.

Trong khối ASEAN, Indonesia là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam với lượng đạt 62,3 nghìn tấn trong năm 2018, trị giá 123,48 triệu USD, tăng 343,5% về lượng và tăng 273,2% về trị giá so với năm 2017.

Giá xuất khẩu bình quân cà phê sang khu vực ASEAN năm 2018 đạt mức 1.886 USD/tấn, giảm 18,5% so với năm 2017. Trong đó, giá xuất khẩu bình quân cà phê sang Lào đạt mức cao 4.517 USD/tấn, tăng 52,4% so với năm 2017 do chủ yếu là xuất khẩu cà phê chế biến. Giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam sang các thị trường khác như Indonesia, Thái Lan, Philippin giảm mạnh. 

Kiến thức về các loại cà phê

Chúng ta có những giống cà phê ngon, hàng năm nước ta xuất khẩu trên một triệu tấn cà phê. Trong đó, Moka là một giống cà phê thơm ngon tuyệt vời, được xếp hạng hàng đầu. Moka chất lượng cao trồng được ở vùng Đà Lạt với độ cao từ 1300-1500m. Yếu tố khí hậu và thổ nhưỡng cao nguyên như vậy tạo nên hương vị và danh tiếng của giống Moka này!

Trước hết cà phê có hai giống chính khác nhau là Robusta và Arabica. Rubusta, như cái tên nó thể hiện, rất là robust, tức là mạnh, là nhiều cafeine, là mất ngủ nhiều. Arabica thì trái lại, ít độc hại hơn, nhưng có nhiều hương thơm (aroma). Nghệ thuật sản xuất café bắt đầu từ việc lựa chọn hạt cà phê, và pha một tỷ lệ thích hợp giữa hai giống café này. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được điểm mạnh và yếu, độ thơm ngon của các loại cà phê khác nhau. Bài viết này sẽ giới thiệu với chúng ta về các loại cà phê có mặt trên thị trường để chúng ta có cái nhìn rõ hơn.

Robusta

Cà phê Robusta hạt nhỏ hơn Arabica. Được sấy trực tiếp chứ không phải lên men, Vị đắng chiếm chủ yếu. loại này uống phê hơn. Được trồng ở độ cao dưới 600m, khí hậu nhiệt đới, vì thế có mặt ở nhiều nước hơn (VN chỉ trồng loại này). Việt nam là cường quốc xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau Brazil) và phần lớn là robusta, tổng lượng chiếm 1/3 lượng cà phê tiêu thụ trên toàn thế giới.

phan-biet-cac-loai-ca-phe-1

Arabica

Loại cà phê hạt hơi dài, trồng ở độ cao trên 600m, khí hậu mát mẻ. Được trồng chủ yếu ở Brazil, và chiếm tới 2/3 lượng café hiện nay trên thế giới.

Cách chế biến mới là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica va Robusta. Quả Arabica được thu hoạch, rồi lên men (ngâm nước cho nở…) rồi rửa sạch rồi sấy. Chính vì thế, vị của Arabica hơi chua, và đây cũng được coi là 1 đặc điểm cảm quan của loại cà phê này. Vì thế, nói đến “hậu vị” của cà phê là có thật, nhưng không phải là vị chua, mà phải chuyển từ chua sang đắng. Người ta thường ví vị chua đó giống như khi mình ăn chanh, sẽ thấy rất chua, nhưng lập tức thấy được vị đắng của vỏ. Cách cảm nhận vị chua của cà phê cũng như vậy.

phan-biet-cac-loai-ca-phe-2

Cherry

Cherry gồm có 2 giống chính là Liberica và Exelsa. Loại này không được phổ biến, nhưng đây là loại có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt và năng suất rất cao. Được trồng ở những vùng đất khô đầy gió và nắng của vùng cao nguyên.

Cherry có một đặc điểm và hương vị rất khác lạ. Hạt cà phê vàng, sáng bóng rất đẹp. Khi pha tạo ra mùi thơm thoang thoảng, đặc biệt là vị chua của cherry tạo ra một cảm giác thật sảng khoái. Cherry rất thích hợp với sở thích của phái nữ với sự hòa quyện giữa mùi và vị tạo ra một cảm giác dân dã, cao sang quý phái hòa quyện nhau thât sâu sắc.

phan-biet-cac-loai-ca-phe-3

Culi

Là những hạt cà phê căng tròn. Đặc biệt là trong một trái chỉ có duy nhất một hạt. Vị đắng gắt, hương thơm say đắm, hàm lượng cafein cao, nuớc màu đen sánh đó là những gì mà cà phê Culi mang đến. Đó là quá trình kết hợp tinh túy của sự duy nhất.

phan-biet-cac-loai-ca-phe-4

Moka

Moka thuộc chi Arabica, được người Pháp di thực từ những năm 30 của thế kỉ trước, trồng ở Đà Lạt. Giống cà phê này khó trồng, đòi hỏi công chăm sóc rất kỹ, dể bị sâu bệnh, cần có điều kiện môi trường lẫn kỹ thuận chăm bón đặc thù, nhưng năng xuất lại rất ít. Cây cà phê Moka chỉ có thể sinh truởng và phát triển ở độ cao từ 1500m. Cho nên, ở Việt nam moka là cà phê quý hiếm. Có thể thấy, không có nhiều người giữa chúng ta có dịp thưởng moka nguyên chất. Càng lên cao, cộng thêm với điều kiện thổ nhưỡng, canh tác phù hợp thì  hương vị và chất lượng của moka càng tuyệt vời. Có thể nói moka là hoàng hậu trong vương quốc café, hạt moka lớn và đẹp hơn nhiều so với giống khác, hương thơm của nó rất đặc biệt. Sang trọng, ngây ngất, vị hơi chua một cách thanh thoát, dành cho người sành điệu. Một khi đã vui hưởng được hương vị đích thực của moka rồi, người ta sẽ luôn nhớ đến nó hơn bất kỳ loại café nào. Moka thơm quí phái và có vị đặc trưng là khẩu vị lựa chọn hàng đầu của các nước Châu Âu và Mỹ.

Sở hữu ngay tên miền vinacoffee.com.vn, vncoffee, vncafe.vn để chuyên cung cấp cà phê được phối hợp từ nhiều loại hạt: Culi, Robusta, Cherry, Cartimo, Arabica…

Related Post

4 Comments

  • Xuất khẩu cà phê Excelsa tăng vọt tới 356%

    Năm 2018, lượng xuất khẩu các chủng loại cà phê đều tăng mạnh so với năm 2017. Đặc biệt, xuất khẩu cà phê Excelsa (hay còn gọi là cà phê mít) tăng mạnh 356,7% về lượng và tăng 253,9% về trị giá.

    Theo thông tin từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), giá cà phê tại thị trường trong nước tháng 1/2019 tăng theo giá cà phê toàn cầu.

    Ngày 28/01/2019, giá cà phê Robusta tăng từ 0,6 – 2,2% so với ngày 28/12/2018. Giá cà phê có mức thấp nhất là 32.800 đồng/kg tại huyện Di Linh, Lâm Đồng; mức cao nhất là 33.700 đồng/kg tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk. Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta loại R1 ở mức 34.300 đồng/kg, tăng 0,6%.

    Theo ước tính, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 1/2019 đạt 175 nghìn tấn, trị giá 305 triệu USD, tăng 13,7% về lượng và tăng 10,6% về trị giá so với tháng 12/2018, nhưng giảm 12,8% về lượng và giảm 22,2% về trị giá so với tháng 01/2018. Tháng 01/2019, giá xuất khẩu cà phê trung bình ở mức 1.743 USD/tấn, giảm 2,7% so với tháng 12/2018 và giảm 10,7% so với tháng 01/2018.

    Năm 2018, lượng xuất khẩu các chủng loại cà phê đều tăng mạnh so với năm 2017. Cà phê Robusta vẫn là chủng loại xuất khẩu chủ yếu với tỷ trọng chiếm 85,3% tổng lượng xuất khẩu, tăng so với 80% của năm 2017, đạt 1,602 triệu tấn, trị giá 2,753 tỷ USD, tăng 27,8% về lượng và tăng 5,9% về trị giá so với năm 2017.

    Đáng chú ý, năm 2018 xuất khẩu cà phê Excelsa tăng mạnh so với năm 2017, tăng 356,7% về lượng và tăng 253,9% về trị giá. Tuy nhiên, lượng xuất khẩu cà phê Excelsa vẫn ở mức thấp, đạt 10 nghìn tấn trong năm 2018.

    Giá xuất khẩu bình quân cà phê Robusta năm 2018 đạt mức 1.718 USD/tấn, giảm 17,2% so với năm 2017. Giá xuất khẩu cà phê Robusta, Arabica và cà phê Excelsa đều giảm ở mức 2 con số, trong khi giá xuất khẩu bình quân cà phê chế biến tăng 0,9%, lên mức 5.013 USD/tấn.

    Tháng 01/2019, giá cà phê trên thị trường thế giới tăng so với tháng 12/2018. Giá cà phê toàn cầu tháng 01/2019 tăng do hoạt động mua vào tăng mạnh trong khi nguồn cung tại khu vực Trung Mỹ khan hiếm; thị trường lo ngại sản lượng cà phê trong niên vụ 2018/2019 tại Bra-xin và Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng do thời tiết không thuận lợi; đồng Real Brasil ổn định, trong khi đồng USD giảm mạnh đã hỗ trợ giá cà phê toàn cầu giữ được đà phục hồi trong ngắn hạn; tồn kho cà phê tại châu Âu giảm.

    Theo số liệu thống kê từ ITC, nhập khẩu cà phê của Hàn Quốc năm 2018 đạt 158,4 tấn, trị giá 637,28 triệu USD, giảm 0,6% về lượng và giảm 2,8% về trị giá so với năm 2017.

    Năm 2018, Brasil đã vượt Việt Nam trở thành thị trường cung cấp cà phê lớn nhất cho Hàn Quốc với lượng đạt 30,5 nghìn tấn, trị giá 85,13 triệu USD, tăng 10,4% về lượng, nhưng giảm 1,9% về trị giá so với năm 2017. Trong khi đó, nhập khẩu cà phê của Hàn Quốc từ Việt Nam giảm 13,5% về lượng và giảm 22,6% về trị giá, đưa Việt Nam xuống trở thành thị trường cung cấp cà phê lớn thứ 2. Do đó, thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hàn Quốc năm 2018 giảm xuống 19%, so với mức 21,9% năm 2017.

    Ngọc Anh

    Theo Nhịp sống kinh tế

    Reply
  • Đầu năm 2019, giá cà phê trong nước tăng cùng thế giới

    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu sản lượng cà phê trong năm 2019 đạt 1,67 triệu tấn, tăng 52.400 tấn so với với năm 2018.

    Bộ Công thương cho biết, 10 ngày đầu tháng 01/2019, giá cà phê Robusta nhân xô trong nước tăng theo giá cà phê toàn cầu. So với ngày 10/12/2018, giá cà phê Robuta nhân xô tăng từ 0,3 – 0,9%, so với ngày 28/12/2018 tăng từ 2,1 – 3,7%.

    Ngày 09/01/2019, cà phê Robusta nhân xô có mức thấp nhất là 33.300 đ/kg tại các huyện Di Linh và Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng); mức cao nhất là 34.100 đ/kg tại huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk. Trong khi đó, tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09/01/2019 giá cà phê Robusta loại R1 biến động không đồng nhất, giảm 0,3% so với ngày 10/12/2018, nhưng tăng 1,7% so với ngày 28/12/2018, đạt mức 34.900 đ/kg.

    Theo Hiệp hội Cà phê Cacao Việt Nam, sản lượng cà phê năm 2019 có thể giảm 20% do chịu ảnh hưởng bởi thời tiết xấu và diện tích canh tác giảm. Hiện khu vực Tây Nguyên đang bước vào cuối vụ thu hoạch cà phê, nhưng do giá giảm sâu nên người trồng cà phê hạn chế bán ra.

    Còn theo Tổng cục Hải quan cho biết, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 12/2018 đạt 153,9 nghìn tấn, trị giá 275,77 triệu USD, tăng 11,4% về lượng và tăng 7,1% về trị giá so với tháng 11/2018, nhưng vẫn giảm 6,1% về lượng và giảm 15,6% về trị giá so với tháng 12/2017. Năm 2018, xuất khẩu cà phê đạt 1,878 triệu tấn, trị giá 3,537 tỷ USD, tăng 19,9% về lượng và tăng 1,1% về trị giá so với năm 2017.

    Xuất khẩu cà phê sang thị trường Đức tăng 16,9% về lượng, nhưng giảm 3,7% về trị giá so với năm 2017, đạt 260,4 nghìn tấn, trị giá 459 triệu USD. Trong khi đó, xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ giảm 0,2% về lượng và giảm 16,4% về trị giá so với năm 2017, đạt 182,5 nghìn tấn, trị giá 340,22 triệu USD. Đáng chú ý, xuất khẩu cà phê sang Nga tăng trưởng 2 con số với mức tăng 97,4% về lượng và tăng 59,1% về trị giá, đạt 90,4 nghìn tấn, trị giá 185,76 triệu USD.

    Reply
  • Cà phê là mặt hàng xuất khẩu số 1 của Việt Nam sang thị trường Algeria

    Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu cà phê chiếm đến 68% tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vào quốc gia Bắc Phi này.

    Bộ Công thương dẫn số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2018, xuất khẩu cà phê của nước ta sang Algeria đạt 74.120 tấn, kim ngạch đạt 132,48 triệu USD, tăng 56% về lượng và tăng 28% về giá trị so với năm trước đó.

    Được biết, cà phê là đồ uống được ưa chuộng nhất của người Algeria, trung bình một người dân tiêu thụ trên 3kg cà phê mỗi năm. Hàng năm, thị trường Bắc Phi này nhập khẩu khoảng 130.000 tấn cà phê hạt các loại với trị giá 300 triệu USD, tăng trưởng trung bình 3%/năm.

    Cà phê được nhập khẩu dưới dạng thô và được chế biến tại các nhà máy rang xay theo thị hiếu của người Algeria. Chủng loại cà phê Robusta chiếm đến 85% tỷ trọng trong tổng kim ngạch nhập khẩu cà phê của nước này.

    Những nước xuất khẩu cà phê chủ yếu sang Algeria là Việt Nam, Bờ Biển Ngà, Indonesia, Brazil và Italia. Tổng số thuế và phí nhập khẩu cà phê vào Algeria là 60% bao gồm thuế hải quan 30%, VAT 19%, thuế tiêu thụ nội địa 10% và thuế đóng góp cộng đồng 1%.

    Với tình hình xuất khẩu như hiện nay, Bộ Công thương dự báo, Algeria là thị trường vẫn còn dư địa cho cà phê Việt Nam và trong tương lai, đây vẫn sẽ là mặt hàng xuất khẩu số 1.

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

five × four =